Viet-studies:
thời gian
TRONG MẮT TÔI
Trần Hữu Nghiệp
(nxb Văn Nghệ - 1993)
22
Chuyện đời xưa... và chuyện thời nay
Tại cuộc gặp gỡ đại biểu văn nghệ sĩ ngày 7-10 vừa qua, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh có đề nghị: “Sáng tác đụng chạm đến “nhà” quan liêu mệnh lệnh nào đó đương chức đương quyền là điều khó… Có khi phải mượn chuyện đời xưa để nói, làm cho ai có tật phải giật mình, phải thấy nhột”.
Chuyện đời xưa hay nhất, nhiều nhất là vào thời Xuân Thu Chiến Quốc bên Tàu. Xin kể hai chuyện sau đây, làm đường cong nói nhiều sự thật.
1. Mến con, lo cho cháu, là đại nghĩa
Nước Lỗ nhỏ và yếu. Tề lớn mạnh thừa thế cử quân đánh Lỗ. Đến biên giới, tướng tiên phong trông thấy một người đàn bà, tay bồng một đứa bé, tay dắt một đứa bé khác, khi thấy quân Tề kéo đến, vội vàng bỏ đứa nhỏ đương bồng xuống đất, bồng đứa đang dắt lên tay bỏ chạy trốn vào rừng. Đứa bé bị bỏ rơi khóc la ầm ĩ, nhưng người đàn bà cứ chạy, không ngoảnh lại. Viên tướng Tề cho vây bắt, hỏi: “Đứa bé nàng bồng là ai, đứa bẻ bỏ lại là con ai?” Chị phụ nữ trả lời: “Đứa tôi bồng chạy trốn là cháu, rất thông minh; đứa bỏ lại là con ruột tôi. Không thể bế cả hai đứa mà chạy nên đành vì nghĩa lớn, cứu cháu bỏ con, dù lòng đau xót. Làm người vô nghĩa thì không thể vác mặt sống trong nước Lỗ được đâu”.
Viên tướng nghe, cho dừng quân lại, cấp tốc về tâu vua Tề: “Nước Lỗ chưa đánh được đâu, bởi một người đàn bà bình thường ở ngoài biên giới mà cũng biết trọng nghĩa, hy sinh con, thời quan lại sĩ phu phục vụ triều đình còn tôn thờ đại nghĩa bậc nào nữa?” Vua Tề cho là phải, truyền rút quân. Vua Lỗ biết chuyện này, tặng cho bà mẹ nọ một trăm tấm lụa và phong hai chữ “nghĩa cô”.
Thời còn kháng chiến chống Mỹ, nhiều thanh niên nam nữ hưởng ứng câu thơ “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lại”, ồ ạt “đi B” (tức là đi chiến đấu ở chiến trường miền Nam). Nhưng cũng không ít cậu con trai ông này, bà nọ, tới tuổi nghĩa vụ quân sự, giỏi lánh né, lại được dễ dàng cấp hộ chiếu sang Tây du học dài hạn. Anh em còn kháo nhau: Có một vị nọ, tiêu chuẩn, cấp bậc, ngang Bộ trưởng, khéo léo thế nào mà cả ba đứa con đều được đi Tây; đứa thứ tư đang chuẩn bị giấy tờ thì bị rủi ro phát hiện ra bệnh tâm thần, nên phải “ách” lại.
Trong rừng rậm miền Nam, các chuyện “kháo” nhau giữa một số người am hiểu, không hề dội đi xa; vì “lý do chính trị”, phải giữ mồm mép. Trái lại, cần nêu gương anh dũng hy sinh của các “cậu ấm” khác tại chiến trường, như nhà thơ Lê Anh Xuân (con cụ Ca Văn Thỉnh); Nguyễn Văn Lộc, con trai của bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng (lúc ấy là Phó Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội), vân vân…
2. Sáng việc chung mà tối việc riêng là tự gây cho mình tai hoạ
Trịnh Trang Công có chuyện bất hoà với mẹ là Khương Thị, nên đem bà an trí tại ấp Dĩnh. Rồi thề: “Từ rày mẹ con muốn gặp nhau phải xuống suối vàng”. Dân nước Trịnh trách vua bất hiếu; vua cũng hối hận. Dĩnh Khảo Thúc biết chuyện, đem lễ vật dâng Trịnh Bá rồi được giữ ở lại ăn cơm. Khảo Thúc chọn món ngon để riêng không ăn, nói để đem về dâng cho mẹ già ở nhà.
Thấy chúa Trịnh sa nước mắt, Khảo Thúc hỏi lý do. Vua nói muốn gặp mẹ, nhưng đã lỡ lời thề rồi, khó xử. Khảo Thúc hiến kế nên đào con đường hầm làm suối vàng, dắt đến nơi mẹ ở. Vua rất ưng ý, bá tánh đều khen ngợi có bầy tôi đa mưu túc trí lo việc nước tuyệt vời. Rõ ràng, họ Dĩnh là một người sáng suốt việc lớn, khéo hiến kế an dân, giữ yên đạo lý.
Nhưng sau một cuộc diễn tập, vua thưởng một lộ xa cho cả hai người, là Khảo Thúc và Công tử Ái. Cậy có quyền thế và được tin yêu hơn, Thúc giành cả xe về mình. Do đó, trong một trận giáp chiến với quân nước Hứa, Khảo Thúc bị công tử Ái lén bắn chết khi leo thành, bởi ghét tật tham lam, trục lợi. Người đời lại chê cười: tranh xe, giành của làm chi mà toi mạng?
Ông cha ta ngày xưa đọc lại chuyện này, rồi thấm. Cụ Hải Thượng Lãn Ông được Trịnh Sâm mời về Thăng Long chữa bệnh, đã từ chối danh vị Thái y, ròi khi được trọng thưởng cho phép trở về quê, chỉ giữ lại 10 quan đủ ăn đường đi Hà Tĩnh. Về sau, khi hay tin cả gia đình quận Huy, người đỡ đầu đã cất nhắc mình bị sát hại, cụ ghi mấy hàng này để lại cho cháu con trước khi chấm dứt cuốn Ký sự lên kinh: “Ta đã lọt vào chốn danh lợi mà không để danh lợi mê hoặc; miễn cưỡng mà đến, nghênh ngang mà đi. Chẳng bị người đời chê cười chẳng qua nhờ ở cái lòng không biết tham thôi” (dịch nguyên văn). Sau cụ Lê Hữu Trác 60 năm, người đồng hương Nguyễn Công Trứ, suốt một đời dài làm quan vào Nam, ra Bắc, lên voi xuống chó nhiều phen, từ Tuần phủ An Giang bị cách chức và đi làm lính thú ở Quảng Ngãi, rồi trở thành Thừa Thiên Phủ Doãn trước lúc về hưu. Nhưng cụ đã sống một cuộc đời vui thú, ung dung thanh thản tới 81 tuổi. Bí quyết cụ để lại cho chúng ta là câu thơ: “Duy thân giả hoạn hải, ba đào vô nộ tái không chu”. Xin dịch: Bể hoạn dù có sâu mấy đi nữa, sóng gió cũng chẳng bao giờ giận dữ chiếc thuyền không chở món gì”.
Nghị quyết Bộ Chính trị báo hiệu sẽ có mưa dông, điều cần thiết cho xã hội bớt oi bức, không khí dịu mát đi, mầm non tươi đẹp nhú lên tô điểm đất nước. Đối với một số cán bộ nào đó có thể là cơn ba đào sắp khởi đầu. Nhưng theo lời cụ Nguyễn Công Trứ vào lúc cuối đời: Lo gì sóng gió nếu khách ngồi trên thuyền “được mắt dương dương người thái thượng” (trích bài thơ “Ngất ngưỡng”) và con thuyền lướt nước vẫn nhẹ tênh, trống không, chẳng chuyên chở cái gì bất chính hay quá nặng nề (như vàng cây, xe cúp, tủ lạnh, tivi… hay bồ nhí, em cưng!)
Đã đăng Báo Sài Gòn Giải Phóng năm 1989.
3. Lại kể chuyện đời xưa
Nào phải chỉ mới từ Nguyễn Trãi mà tổ tiên ta biết rằng “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, quân cứu nước trước cần trừ bạo… đừng đến nỗi nhân dân phải oán, phản” (Bình Ngô đại cáo).
Trước đây hàng ngàn năm, người ta đã hiểu: Muốn cho đất nước hanh thông, lòng người thoả mãn, thì phải có kỷ luật đối với kẻ làm hại dân, cất nhắc khen thưởng người có đức, có tài, trung thực, thẳng thắn. Chuyện Chiến Quốc kể:
Uy Hậu nước Triệu rất thân với vua Tề, Tề vương sai sứ giả đem thư hỏi thăm bà.
Uy Hậu không mở thư, hỏi sứ giả: Chung Li Tử bên ấy vẫn bình yên mạnh khoẻ chứ? Sử sĩ ấy có ăn lương vua hay không, có được áo mặc hay không? Hay vẫn thế, khuyên vua lo cho dân mà đến giờ vẫn chưa được ra làm quan? Còn Nghiệp Dương Tử, thương xót kẻ quan quả, chẩn tế kẻ khốn cùng, sao chưa được triệu ra làm quan? Người con gái Bắc Cung là Anh Nhi Tử, hiền thục có tiếng, không ưa trang sức, sao vua chưa mời vào chầu để nêu gương đức cho mọi người đàn bà trong nước?
Thằng Tử Trọng ở Ô Lăng vẫn còn đấy chứ? Đó là một tên gian manh, không trị được vợ con, chuyên làm điều vô dụng cho dân, sao Tề Vương chưa giết đi?
Sứ giả rất không bằng lòng, tâu lên Uy Hậu: “Kẻ hạ thần vâng lệnh vua sang thăm Thái Hậu, sao Thái Hậu chưa xem thư mà lại cứ hỏi thăm về những người khác, thế chẳng tôn trọng triều đình và Vua Tề hay sao?”
Uy Hậu trả lời: “Dân còn tức phiền, thì đâu có điềm lành cho vua. Nước dân là gốc, triều đình là ngọn. Đấy là ta phải hỏi thăm sức khoẻ chúa ngươi từ gốc trước mà đi lên đó thôi. Trong thư chắc không hề nói điều ta vừa hỏi, vội gì mở ra đọc?”.
Suy diễn giản đơn từ chuyện xưa ấy khi có cán bộ từ Trung ương đến, có anh chị em ở địa phương này nọ hay hỏi: “Ông A, ông B “thôi giữ” chức vụ bộ trưởng, cục trưởng, bây giờ làm việc gì? Anh X, chị Y.. có sai lầm đã bị kỷ luật gì chưa, hình thức ra sao? Hỏi vậy cũng chẳng sao! Nhưng sao không hỏi đầu tiên những điều đang làm cho dân là điều gì? Như Uy Hậu nước Triệu, đó chỉ là lòng lo lắng cho triều đình Tề quốc của nhân dân mà thôi: Đã sử dụng hết nhân tài, loại ra bọn cơ hội chưa?
Sách Lã Thị Xuân Thu lại chép:
Vua Chiêu Vương nước Kinh có bầy tôi tên Thạch Chữ làm quan rất công minh, chính trực, Vua và dân đều thương mến.
Một hôm đang đi tuần trong hạt, nghe có kẻ giết người. Thạch Chữ đuổi theo, gần vây bắt được, mới biết can phạm chính là cha mình, bèn quay xe lại, chạy đến trước vua xin được lãnh án chém. Thạch Chữ tâu: “Làm người phải nêu gương trung hiếu để dân noi theo. Con bắt cha là bất hiếu, nhưng làm quan mà bỏ phép vua đâu còn phải tôi trung? Xin vua cho chém đầu tôi làm gương cho ai muốn làm trái phép, giải toả cho gia đình”.
Vua rất thương, nói: “Nhà ngươi có đuổi theo, nhưng việc bắt không được, thì có tội gì? Rồi lại tự đến trước vua nhận tội tức là biết giữ phép. Thôi, cứ yên tâm giữ chức vụ cũ, tiếp tục làm quan”.
Thạch Chữ lại thưa: “Bao dung, rộng lượng đối với bầy tôi là đấng minh quân, là ơn của Chúa hiền. Nhưng trái phép mà không chịu tội, thì đâu còn là phận tôi trung!”.
Thạch Chữ bèn bái vua, bước ra ngoài, cầm gươm tự sát. Chắc là do lòng trung, không muốn cho triều đình do chiếu cố mình mà bị nhân dân chê trách thiếu nghiêm minh. Ngày nay, làm cán bộ lãnh đạo, mà chạy chọt vận động cho con mình mắc tội buôn lậu được tha, có cần biết chuyện cũ ấy chăng?
Đời nay, ở Hà Nội độ nào, có một bà lớn, nhân viên Ngân hàng Nhà nước, được giao nhiệm vụ đem tiền mới đổi tiền cũ, tiền rách cho nhân dân rồi thủ tiêu loại giấy rách cũ ấy đi. Nhưng bà ta không đốt đi mà đem tiền cũ đổi lại. Chồng bà ta lại ở trong Ban lãnh đạo Ngân hàng. Khi công an xét hỏi, ông trả lời “Tôi không hề hay biết vợ đã tham ô một món tiền quá lớn và làm quá lâu như vậy!”. Phần anh em công an không phải giỏi nghề bói toán gì mà truy ra được giấy bạc cũ không hề bị đem thủ tiêu, mà chỉ đổi địa phương đem xài ở nơi khác. Công an chỉ tìm câu giải đáp thắc mắc cho một công nhân vệ sinh đổ rác. Tại sao gia đình ấy, tháng này sang tháng khác vẫn hàng ngày ăn những bữa cơm quá sang, lưu lại dấu vết trong thùng rác: lá chuối bó lụa luôn cả cây to, lông gà thiến, xương vịt tiềm, vỏ tôm he lột kho riêm, mu cua gạch, vân vân.. tráng miệng lưu lại là vỏ vải thiều, vỏ lê, táo Tàu, giấy bạc bọc phômát, sôcôla, v.v…
Thông thường, muốn hưởng dài dài hằng trăm bữa cơm gia đình “đạm bạc” thế ấy lương bổng của nhà phải nhân lên mấy chục lần. Thế mới có thơ đăng báo, “Chuyện của bà làm ông không biết”. Sách sinh lý học giải thích: Loài người cổ hoặc ở rừng từ lúc lọt lòng, lưỡi và mũi rất thính, có thể đoán được người quen, chỉ nhờ mùi để lại. Càng văn minh, phải thành thạo, hai giác quan ấy cứ lì. Theo cách hiểu biết ấy, cán bộ càng lên cao mà càng quan liêu thì độ tinh nhạy khi vào bàn ăn phải mất dần dần, nên hỏng việc. Hay là chỉ làm ngược lại chuyện Thạch Chữ, người lãnh đạo gương mẫu đã làm?
4. Nói sự thật theo đường cong
Tự cổ chí kim, những lời sàm tấu, rỉ tai báo cáo lên trên, thời nào cũng có cả.
Nhưng lịch sử phân biệt ra nhiều loại. Có những sàm tấu dễ dàng bỏ qua, nhưng cũng có những thứ “thầy dùi” mà ai cũng ghét.
Tôi xin kể lại chuyện Tàu.
Trong Tây Hán, Hàn Tín cầm thơ giới thiệu của Trương Lương tìm đến Lưu Bang. Do lòng tự trọng của một đại trí thức, anh ta chưa vội đưa thơ. Bên cạnh Hán Trung Vương đã có lời lẽ ra vào bất lợi mà Phàn Khoái, một người thân tín, cũng hùa theo. Đại để nội dung bàn tàn như sau: Tài năng gì tên đó? Ai cũng biết có lúc không tự làm ra được miếng ăn, nó phải đi xin cơm ở chợ Hoài Âm. Anh hùng gì mà chịu đi lòn trôn một thằng bán thịt!
Nghĩ mà thương Thừa tướng Tiêu Hà, một lòng vì dân vì nước, không sợ bị chia ảnh hưởng quyền hành, nhiệt tình tiến cử. Sau mấy tháng nằm chờ “công tác”, Hàn Tín bỏ Hán ra đi. Tiêu Hà hay tin bươn bả đến nhà, chỉ còn đọc bài thơ đề trên vách, mở đầu là hai câu:
Anh hùng lỡ vận bước long đong
Thà chịu an thân khỏi thẹn lòng!
Hoảng hốt, thừa tướng cưỡi ngựa băng qua rừng lội suối đuổi theo, quên ăn bỏ uống. Gặp lại nhau dưới bóng trăng mờ cuối đêm tại bến Hàn Khê, Tiêu Hà năn nỉ “Xin túc hạ vui lòng quay lại, chờ tôi tâu lên trên một lần nữa. Nếu không ai tin, lần này tôi cũng xin bỏ quan về làng, chẳng ở đất Bao Trung này nữa!”.
Đọc truyện không ai chê trách Phàn Khoái, bởi về sau, dũng anh tướng này hết lòng phục thiện. Xuất thân là một anh bán thịt cầy ở chợ Bái, theo Lưu Bang từ ngày đầu, lại mang thêm máu “Công thần” từ ngày dám “đánh ngón bài liều” với Hạng Võ ở Hồng Môn hội yến, làm sao họ Phàn có đủ trình độ kiến thức nhận xét về con người họ Hàn xuất chúng tài năng?
Đến lượt Trần Bình, một mưu sĩ xuất sắc nhất, bỏ Sở đến Hán Trung. Lời “rỉ tai” của Chu Bột, một cận thần bên cạnh Lưu Bang, lại thuộc phạm vi sinh hoạt: “Nghe đồn y ta đã ngủ với chị dâu!”. Trong truyện không nói rõ Trần Bình tìm đến chị dâu, hay chính bà chị dâu goá chồng tìm đến anh ta trước. Chu Bột về sau cũng thôi nhắc chuyện đó. Duy vật biện chứng gặp duy vật lịch sử giúp chúng ta hiểu rằng xuất thân là một nông dân ở chế độ phong kiến Tàu, Chu Bột tất nhiên mang theo trong đầu óc đạo đức luận của Khổng Mạnh. Mà nào phải chỉ thời xưa! Trong tác phẩm A.Q chính truyện, Lỗ Tấn đã kể cho ta nghe chuyện anh A.Q bị mọi người rượt đánh, chỉ vì mon men đến gần Vú Ngô, một phụ nữ góa chồng còn đang hừng hực lửa xuân.
*
* *
Nhưng đến chuyện Chinh Đông, thì ai cũng căm ghét tên Trương Sỹ Quí. Là một trí thức quan văn to, mỗi lời tấu của y cùng vua Đường Thái Tôn về Tiết Nhân Quý đều có mưu đồ chính trị của một kẻ gian manh. Họ Trương vừa doạ họ Tiết rằng vua Đường có thành kiến với anh thanh niên mang bạch giáp, bạch bào sau một giấc chiêm bao, vừa muốn sử dụng lâu dài tài trí của người vui lòng giữ chức “anh nuôi” hòng mưu lợi cho riêng mình. Chính trị gia thời nay gọi đó là thủ đoạn “cây gậy và của cà rốt” của một thằng cơ hội. Với tâm địa ấy, nó sẽ phản nước hại dân lúc cơ mưu xấu xa bị Từ Mậu Công khéo léo vạch rõ khi giao cho việc đi đánh Ma Thiên Lãnh.
*
* *
Bên Tây, thời xưa cũng có chuyện như thế. Và đây không phải hư cấu, mà sử ghi chép rõ ràng.
Tại nước Ý, thời phục hưng, hoạ sĩ Coregiơ (Corrège), ở thành Pácmơ (Parme), dựa vào chân thực, vẽ tranh Đức Mẹ với nụ cười âu yếm khi bế Chúa Hài Đồng. Có kẻ ganh tị, tỉ tai tâu lên Giáo Hoàng: “Không vẽ Đức Mẹ với gương mặt đứng đắn trang nghiêm, tức là nó không ngoan đạo!”. Ở thời ấy, một nhận xét kiểu đó thì coi như bị bôi đen lý lịch suốt đời, không ai dám gần.
Đến cuối hế kỷ 18 ở Tây Ban Nha, hoạ sĩ thiên tại Gôia (Goya) vẽ nhiều ký hoạ về cảnh khổ của nhân dân, nên bị báo cáo lên trên là cố ý bôi đen chế độ nhà vua. Đến bức hoạ “Nàng Maja khoả thân”, ngày nay đáng giá hàng chục triệu đôla, thì Goya rõ ràng là định bêu xấu cả triều đình, lại vi phạm đạo lý. Bởi ai ai cũng nhận ra người phụ nữ loã lồ kia là một người trong hoàng tộc đang cầm quyền.
Cũng vào thời ấy, sử ghi: Khi Napôlêông ngồi đánh bài tại điện Tuylơri (Tuilories) bọn được ban cho chức tước cao lại đứng “chầu rìa” sau lưng. Khi hoàng đế chơi một lá bài hay thì họ giành nhau cúi xuống hôn tay. Cũng như ngày nay có thứ “quân sư quạt điện” sẵn sàng nức nở khen thủ trưởng mình “Thưa anh kính mến, ý kiến anh, em thấy hay thật”. Xét cho cùng kiểu cách nịnh bợ này thật quá chất phác. Chỉ đáng trách những ai vẫn khoái và thích nghe. Người trí thức cơ hội thời xây dựng chủ nghĩa xã hội ranh mãnh hơn nhiều. Chúng ta sẽ thử phác hoạ vài chân dung trong một bài sau.
5. Kẻ cơ hội thời nào cũng có
Trong “Nhật ký” của Lép Tônxtôi, có viết một câu não ruột: “Cuộc sống vươn tới văn minh nằm trong trưởng thành như những cây non cùng lớn lên. Nhưng bao giờ con người mới được như những cây cối trong thiên nhiên đang vươn lên giành ánh sáng? Đó cũng là sự đấu tranh, nhưng cuộc đấu tranh trung thực, đơn giản và đẹp. Còn nơi con người thì lắm khi hèn hạ, làm cho tôi căm thù”.
Cũng dễ hiểu, trong thiên nhiên, con người là sinh vật duy nhất biết tư duy. Chính tư duy sản xuất ra các khái niệm đã làm đẹp cuộc sống như trung hiếu, tự do, lập trường, quan điểm.
Nói đến trí thức,là nói tới tư duy. Họ có thể hy sinh cuộc đời cho một khái niệm cao quý, thì họ cũng có thể vay mượn các khái niệm ấy làm thang leo nhằm lợi ích riêng tư. Kẻ cơ hội thời nào cũng có.
Chẳng phải không tính toán trước mà năm 1803, Đặng Trần Thường, tên trí thức cơ hội nhất thời Tây Sơn, chọn sân đền Văn Miếu giữa đất Thăng Long để căng nọc Ngô Thời Nhiệm và rỉ tai bảo thủ hạ đánh cho tới chết. Trên đất thủ đô Paris đúng mười năm trước đó, một nữ chiến sĩ cộng hoà, bà Rôlăng (Roland), đã la to khi bước lên đoạn đầu đài: “Ôi, tự do, tự do! Nhân danh tên mi, đã xảy ra bao nhiêu tội ác”. Vào thời nay, có bao nhiêu anh cơ hội khoác áo đỏ như kỵ sĩ thời Trung Cổ, tự che thân với mũ giáp sắt khi ra trận, đã lợi dụng chữ “bảo vệ lập trường, quan điểm” trong mưu cầu tiến thân, nhằm gạt ra rìa kẻ khác có tài hơn. Gần 100 năm sau Lép Tônxtôi, nhà văn lớn Liên Xô I. Bônđarép gần đây mượn lời nhà đạo diễn phim tài năng Crưmốp, một sĩ quan cực kỳ dũng cảm thời chiến tranh chống Phátxít, than: “Trong xã hội, có hai loại người khổ: đó là người lương thiện trung thực và trí thức có tài năng”.
Thực hiện Nghị quyết Bộ Chính trị về cuộc vận động làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của Đảng, cần quyết tâm phen này làm giảm bớt số người khổ ấy. Muốn vậy, không phải chỉ cần một trái tim rực lửa, mà còn phải có đôi mắt chim ưng, để nhìn vào quá khứ cả chục năm qua, và hành vi hiện tại của mỗi con người. Do bài báo có hạn, xin chỉ giới thiệu ba tác phẩm văn học Liên Xô và Việt Nam mới ra gần đây để ai chưa đọc thì tìm đọc, ai đọc rồi sẽ suy nghĩ thêm: Đó là Thao thức của A.Krôn, Trò chơi của I. Bônđarép và Gương mặt cuộc đời của Hoàng Lại Giang (NXB Văn nghệ TP. HCM). Đấy là những chuyện xảy ra ở hai viện khoa học tự nhiên và một cơ quan văn hoá nghệ thuật, nghĩa là môi trường trí thức 100%.
*
* *
Trong Thao thức, có gần một chục trí thức khoa học khác nhau với những tình tiết khác nhau, nổi bật hơn hết là bộ mặt điển hình của phó tiến sĩ Vđôvin. Lợi dụng làn gió chính trị đang dậy lên trong sinh học ở Liên Xô với học thuyết Lưxencô về tính di truyền, y đã sớm ngoi lên cao và trở thành Bí thư Đảng uỷ, thư ký Hội đồng nghiên cứu khoa học của Viện Sinh lý bản thể. Anh ta đã cho ra khỏi viện nhiều trí thức trẻ mà tài năng đầy hứa hẹn, nhưng không ăn cánh. Ăn cháo đá bát, y đã gạt được tiến sĩ Yudin – một nhà khoa học chân chính đã từng thương y chạy vạy khéo mà “gà” cho toàn bộ luận án phó tiến sĩ – ra khỏi danh sách đại biểu đi dự hội nghị quốc tế ở Paris. Lý do báo cáo lên trên là: Tuy là con một nhà cách mạng Nga sống lưu vong ở Pháp, nhưng Yudin, lập trường chính trị chắc gì kiên định. Tất nhiên, người đi thay là Vđôvin, dù y không nói được một câu tiếng Pháp. Phải đợi nhiều năm về sau, khi Lưxencô không còn là chủ tịch Viện Hàn lâm nông học và học thuyết của ông bị phá sản hoàn toàn trước thế giới, giáo sư viện sĩ Uxpenxki sau thắng lợi rực rỡ của Yudin trong một hội thảo quốc tế khác, cũng ở Paris, chân tình tâm sự lúc ngà ngà hơi men: “Năm ấy, đúng ra anh đi thì có lợi cho viện ta nhiều, do hiểu biết rộng và nói tiếng Pháp như mẹ đẻ. Nhưng chắc anh cũng thông cảm: tôi lúc ấy cũng lâm vào “thế kẹt”, mất chức giám đốc viện như chơi!”.
Bài báo này viết vào lễ kỷ niệm 70 năm Cách Mạng tháng Mười. Mong toà soạn cho phép tôi “lạc đề” một đoạn, tìm hiểu “cái kẹt” vừa kể.
Ngày 16.7.1987 vừa qua, Toà án Tối cao Liên Xô công bố huỷ bỏ án quyết trước năm 1940 đối với 15 nhà khoa học, vì bị xử oan, bắt đi đày ở Xibia rồi qua đời cả ở đó (theo báo Tin tức Matxcơva ngày 16.8.1987). Ai trong số này là bạn chí thân của Uxpenxki, để cho lương tâm viện sĩ day dứt đến ngày cuối cùng vì không dám dũng cảm đứng ra bảo vệ? Phải chăng là nhà bác học canh nông Tsaiamốp, cố vấn của Lênin thời chính sách tân kinh tế, rồi đến khi phong trào hợp tác hoá nông nghiệp ào ào lan rộng, bị kết tội đã viết quá nhiều sách dạy cho nông dân Nga cách tốt nhất để phát triển kinh tế gia đình phụ bằng cách trồng cây gì, nuôi con gì… Điều mà hôm nay Đảng ta gọi là mô hình VAC.
Trong Trò chơi của I. Bônđarép, gương mặt của Pexcarép, Phó chủ tịch Uỷ ban điện ảnh chỉ xuất hiện có một lần, nhưng cũng đủ để cho ta hiểu được con người trí thức ấy. Tình cờ giáp mặt nhà đạo diễn Crưmốp vừa mang về cho Tổ quốc huy chương vàng từ Paris với một phim xuất sắc, lấy đề tài bảo vệ thiên nhiên và chống ô nhiễm môi trường, nhà lãnh đạo Paxcarép vì thọt chân từ bé mà khỏi ra mặt trận ngày nào thời chiến tranh, nói: “Riêng tôi, chưa bao giờ ưa thích kịch bản của anh cả. Anh không động viên thanh niên để xây dựng ở Xibia, mà cứ bắt họ trăn trở với câu hỏi muôn thuở: Lương tâm là gì, sống có lý tưởng như thế nào?” Song nổi bật nhất vẫn là Balabanốp, giám đốc xưởng phim. Không chịu nổi tài nghệ tuyệt vời của Crưmốp, anh ta đã tìm cách “hạ” anh trí thức này để vu khống về sinh hoạt, dùng đủ ngón “ném đá giấu tay”. Phao tin Crưmốp “lập trường” không vững, để cho biết đi Mỹ ký hợp đồng, cần có giám đốc xưởng phim đi theo (!). Có phải chăng bọn cơ hội ấy đã đẩy Liên Xô vào hoàn cảnh bi thảm từ 1989?
Trong cuốn Gương mặt cuộc đời của nhà văn Hoàng Lại Giang, viện trưởng Trương Ngộ gợi lại gưong mặt viện trưởng Uxpenxki trong Thao thức và phó tiến sĩ Trần Thăng nhắc lại thủ đoạn để ngoi lên của Vđôvin, nhưng có khác là anh này được bạn bè kêu bằng “phó tiến sĩ hữu nghị”. Dù sao, trí thức cơ hội chủ nghĩa ở nước ta cũng có nét đặc thù của nó. Như nữ kỹ sư Phương cầm nhầm tại căng tin gói đường của người khác nặng hơn chỉ 4 lạng, và chuyển trộm nửa ký sinh vật ra ngoài cho con buôn nhằm “cải hoạt gia đình”. Đặc biệt ai đã từng vượt Trường Sơn về Nam thời chống Mỹ sẽ hứng thú đọc truyện về kỹ sư Định, chồng bà Phương ấy. Một cán bộ được cử đi học, làm bí thư chi bộ, thi đỗ ra trường mà không “tình nguyện đi B” thì “khó coi” – Nhưng trước lúc mang ba lô thượng lộ; đã chuẩn bị sẵn sàng để cưới vợ ba tháng sau. Chứng “đau dạ dày” bỗng nhiên xuất hiện trên đường đi. Và tất nhiên, đoàn sẽ gởi anh về Hà Nội điều trị. Thời kháng chiến, có kẻ đặt tên đấy là “bệnh B quay”. Nếu bệnh xuất hiện sớm hơn tại trường 105 khi số gạch bỏ vào ba lô để tập leo núi tăng dần, với các triệu chứng thấp khớp, yếu tim, yếu phổi, thì xin phép mượn lại một danh từ của đồng chí Tổng Bí thư ngày 8-10 vừa qua dùng với văn nghệ sĩ, mà gọi đó là “bệnh sọc dưa”!
Nghị quyết 3, của Ban Chấp hành Trung ương khoá 7 Đảng ta, là nhằm sửa chữa cái “lộn xộn” từng có trong quá khứ, đưa đất nước tiến lên.
(Bài đã đăng trên báo SGGP)
-------------------------